Dịch tễ viêm gan C
Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014
2.1. Vai trò dịch tễ học của tip gen:
Để nghiên cứu dịch tễ học nhiễm HCV, xác định tip gen đóng vai trò quan trọng.
Có sự khác biệt cơ bản các khúc nucleotide của bộ gen HCV: Căn cứ vào đó những tip gen khác nhau đã được xác định. ít nhất có 20 tip gen và mỗi tip gen ỉại bao gồm’ nhiều thứ tip (subtype) khác nhau có quan hệ mật thiết và có ý nghĩa dịch tễ.
Sự phân bố của các tip gen HCV khác nhau rõ rệt trong những vùng địa dư khác nhau.
Ở Úc tip gen phổ biến nhất là type 1 (52%) hoặc type 3 (32%), type 2 (9,3%), type 4 (5,5%) và type 6 (1,7%) hiếm hơn. Trong các phân lập type Ị, 1-b phổ biến hơn cho những bệnh nhân được sinh ra ngoài Australia so vối bệnh nhân sinh tại Australia (50% so với 13%), 21/23 (91%) bệnh nhân so vối type 4 có nguồn gốc Ai Cập, 6/7 (86%) vối type 6 có nguồn gốc Việt Nam [26].
2.2. Nguồn bệnh:
Là những bệnh rihân bị viểm gan c cấp hoặc mạn tính.
2.3. Đường lây
Chủ yếu lây theo đường máu, nhất là sau truyền máu hoặc các phương tiện có tiếp xúc vối máu như: kim, bơm tiêm (kể cả kim châm cứu), thẩm phân máu, v.v. Nhiễm virus máu tương đối yếu (105-106/ml). Thời gian nhiễm virus máu có thể ngắn, thoáng qua, hoặc có thể kéo dài trồ thành mạn tính. Vì vậy tỷ lệ dương tính Anti-HCV rất cao ồ những người nghiện chích. Tỷ lệ này ỏ người nghiện có thể tới 71,73% so vói 1,96% ở những người khoẻ mạnh [20].
ở Mỹ trưóc những năm 1970 cứ 3 ca truyền máu thì có một ca mắc bệnh viêm gan. Từ đó trước khi lấy máu người ta đều kiểm tra kỹ HBsAg nên đã giảm hẳn tỷ lệ viêm gan B (từ 10% xuống còn 3-4% rồi 0%). Những trường hợp viêm gan sau truyền máu còn lại chủ yếu do HCV.
Cho đến năm 1989 đa sô" các nưóc công bô' còn khoảng 8% viêm gan do truyền máu. ở Pháp là 13%. Từ 01/3/1990 việc kiểm tra kháng thể viêm gan c đã trở thành một nguyên tắc bắt buộc đôì vối mọi đôì tượng cho máu. Nhò vậy tỷ lệ kháng thể viêm gan c ỏ những ngưòi cho máu ồ Pháp giảm rõ, chỉ còn 0,68% [7].
Đọc thêm tại: http://phongbenhgan.blogspot.com/2014/08/tinh-hinh-nhiem-hcv-theo-phan-bo-ia-ly.html
2.3. Đường lây
Chủ yếu lây theo đường máu, nhất là sau truyền máu hoặc các phương tiện có tiếp xúc vối máu như: kim, bơm tiêm (kể cả kim châm cứu), thẩm phân máu, v.v. Nhiễm virus máu tương đối yếu (105-106/ml). Thời gian nhiễm virus máu có thể ngắn, thoáng qua, hoặc có thể kéo dài trồ thành mạn tính. Vì vậy tỷ lệ dương tính Anti-HCV rất cao ồ những người nghiện chích. Tỷ lệ này ỏ người nghiện có thể tới 71,73% so vói 1,96% ở những người khoẻ mạnh [20].
ở Mỹ trưóc những năm 1970 cứ 3 ca truyền máu thì có một ca mắc bệnh viêm gan. Từ đó trước khi lấy máu người ta đều kiểm tra kỹ HBsAg nên đã giảm hẳn tỷ lệ viêm gan B (từ 10% xuống còn 3-4% rồi 0%). Những trường hợp viêm gan sau truyền máu còn lại chủ yếu do HCV.
Cho đến năm 1989 đa sô" các nưóc công bô' còn khoảng 8% viêm gan do truyền máu. ở Pháp là 13%. Từ 01/3/1990 việc kiểm tra kháng thể viêm gan c đã trở thành một nguyên tắc bắt buộc đôì vối mọi đôì tượng cho máu. Nhò vậy tỷ lệ kháng thể viêm gan c ỏ những ngưòi cho máu ồ Pháp giảm rõ, chỉ còn 0,68% [7].
Đọc thêm tại: http://phongbenhgan.blogspot.com/2014/08/tinh-hinh-nhiem-hcv-theo-phan-bo-ia-ly.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: triệu chứng của bệnh gan, bệnh
viêm gan B lây qua đường nào
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét