Tỉnh hình nhiễm HCV theo phân bổ địa lý
Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014
Trên thế giới HCV là một vấn đề lổn trong sức khoẻ cộng đồng. Có 3 khu vực được phân chia dựa vào anti-HCV.
- Vùng có tỷ lệ nhiễm thấp dưới 0,5% như các nước ức, Đan Mạch, Thuỵ Sĩ, Canada, v.v...
- Vùng nhiễm vừa với tỷ lệ từ 0,5 tới 1%.
- Vùng có tỷ lệ nhiễm cao trên 1%, như ỏ Pháp tỷ lệ đó là 1,2%. Trong đó 80% có dấu hiệu HCV đang nhân lên (ARN- HCV dương tính) và người mang HCV mạn tính là 0,9%. Để hình dung tầm quan trọng của vấn đề này ta thấy ồ Pháp với 57 triệu dân như vậy cổ từ 500.000 - 650.000 ngưòi đã bị nhiễm HCV. Trong đó chỉ 1/4 những người bị nhiễm biết tình trạng bệnh của mình [21].
Ở Mỹ tỷ lệ đó là 1,8% với sô' lượng toàn quốc là 3.875.000 ngưòi và 33,5% những người có anti-HCV(+) có ALT cao, so với 4,5% ngưòi âm tính. Những người đa quan hệ tình dục cao gấp 23 lần người chưa hoặc chỉ có đơn quan hệ (9% so với 0,4%) và 12 lần cao hdn ỏ ngưòi nghiện chích so vối không nghiện (13% so vổi 1%) [18].
Các nước vùng Đông-Nam Âu Châu, Nhật Bản và nhiều nước đang phát triển khác, trong đó ỏ Châu Á và Châu Phi có tỷ lệ nhiễm cao nhất, có thể tới 5%.
b. Ở các nước châu Ả:
Viêm gan virus cũng là một vấn đề nghiêm trọng ỏ các nưốc châu Á (Bảng 17). Ở những nước có nền kinh tế phát triển trong khi những dự án đã được thực thi tiêm chửng mỏ rộng phòng HAV và HBV tỏ ra có hiệu quả thì viêm gan c càng nổi bật vai trò quan trọng. Còn ỏ hầu hết các nước châu lục này dịch tế huyết thanh học của viêm gan c chưa được nghiên cứu đầy đủ như đối với viêm gan B vì các KIT chẩn đoán đắt. Tỷ lệ nhiễm HCV đã được báo cáo sơ bộ giao động từ 0,5 - 5,2% như nêu trong Bảngl6. Ở một vài nước đã triển khai nghiên cứu các tip gen của HCV. Type 1-b phổ biến nhất ồ Trung Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản. Type 3 phổ biến nhất ỗ Ấn Độ và các nưốc ĐNA. Type 1 nổi trội ở Singapore.
Bảng 1: Huyết thanh dịch tễ HCV ở Châu Á
|
Bảng 17: Căn nguyên của các loại VG cấp ở người lớn ở Á Châu [27]
|
.
ở các nước này viêm gan mạn, xơ gan, ung thư gan nguyên phát chủ yếu do HBV và ít phổ biến hơn HGV. Trừ ở Nhật Bản, HCV phổ biến hơn HBV trong các bênh gan man.
b. Tại Việt Nam:
ở nước ta cũng như ỏ các nước đang phát triển cho tổi nay việc nghiên cứu dịch tễ học nhiễm HCV còn rất hạn chế. Sỗ dĩ vậy vì một phần chúng ta đang còn phải tập trung vào nghiên cứu nhiễm HBV, một bệnh phổ biến hơn và cũng nhiều nguy hiểm, hơn nữa, nhờ tự sản xuất vaccin chúng ta có khả năng phòng chông vối hiệu quả tốt. Một phần vì KIT phát hiện HCV đắt hơn nhiều. Tuy nhiên cũng đã có những công trình nghiên cứu ban đầu.
Tỷ lệ nhiễm HCV tại Hà Nội khoảng 4% ỗ các nhân viên y tế và phụ nữ mang thai. Tỷ lệ đó cao hơn nhiều ỏ những ngưòi mắc bệnh ưa chảy máu 6%, đặc biệt rất cao ỏ những ngưòi nghiện chích, ma tuý 31%. Ở những ngưòi cho máu tỷ lệ đó thấp hơn 0,8% [10, 11] Tất nhiên chúng ta hiểu ố Việt Nam những ngưòi cho máu đa phần Ịà những ngưòi bán máu, một khi anti-HCV dương tính họ được loại trừ khỏi danh sách vì vậy tỷ lệ đó thấp.
Tại Viện Quân y 108, qua 10 năm kiểm tra ạnti-HCV bằng các thê hẹ KIT-I và -II, trên 35.367 người cho máụ, tỷ lệ đó là 0,262%. Trong khi tỷ lệ dương tính ở những nhóm bệnh nhân viêm gan nằm viện cao hơn nhiều [8, 9].
Tại Thành phô" Hồ Chí Mỉnh: Nhiễm trong quần thể bình thưòng 3,2 - 4,2%, song tỷ lệ đó cũng vượt trội ồ những bệnh nhân ưa chảy máu - 29%, đặc biệt ỏ những ngưòi nghiện chích: 87-96,9%. Ở đó tỷ lệ ở ngưòi cho máu cũng cao hơn ở Hà Nội 20,6% [13, 28, 10].
anti*HCV(+) trong dân chúng khoảng 4,1% [37]. Bằng kỹ thuật miễn dịch pha rắn (SPRIA) ở các đơn vị quân đội thấy tỷ lệ thấp hơn 0,5% (3/620), ở tân binh càng rất thấp 0,3% (1/359), ở sỹ quan cao hơn 0,85% (2/216) [17].
ở các nước này viêm gan mạn, xơ gan, ung thư gan nguyên phát chủ yếu do HBV và ít phổ biến hơn HGV. Trừ ở Nhật Bản, HCV phổ biến hơn HBV trong các bênh gan man.
b. Tại Việt Nam:
ở nước ta cũng như ỏ các nước đang phát triển cho tổi nay việc nghiên cứu dịch tễ học nhiễm HCV còn rất hạn chế. Sỗ dĩ vậy vì một phần chúng ta đang còn phải tập trung vào nghiên cứu nhiễm HBV, một bệnh phổ biến hơn và cũng nhiều nguy hiểm, hơn nữa, nhờ tự sản xuất vaccin chúng ta có khả năng phòng chông vối hiệu quả tốt. Một phần vì KIT phát hiện HCV đắt hơn nhiều. Tuy nhiên cũng đã có những công trình nghiên cứu ban đầu.
Tỷ lệ nhiễm HCV tại Hà Nội khoảng 4% ỗ các nhân viên y tế và phụ nữ mang thai. Tỷ lệ đó cao hơn nhiều ỏ những ngưòi mắc bệnh ưa chảy máu 6%, đặc biệt rất cao ỏ những ngưòi nghiện chích, ma tuý 31%. Ở những ngưòi cho máu tỷ lệ đó thấp hơn 0,8% [10, 11] Tất nhiên chúng ta hiểu ố Việt Nam những ngưòi cho máu đa phần Ịà những ngưòi bán máu, một khi anti-HCV dương tính họ được loại trừ khỏi danh sách vì vậy tỷ lệ đó thấp.
Tại Viện Quân y 108, qua 10 năm kiểm tra ạnti-HCV bằng các thê hẹ KIT-I và -II, trên 35.367 người cho máụ, tỷ lệ đó là 0,262%. Trong khi tỷ lệ dương tính ở những nhóm bệnh nhân viêm gan nằm viện cao hơn nhiều [8, 9].
Tại Thành phô" Hồ Chí Mỉnh: Nhiễm trong quần thể bình thưòng 3,2 - 4,2%, song tỷ lệ đó cũng vượt trội ồ những bệnh nhân ưa chảy máu - 29%, đặc biệt ỏ những ngưòi nghiện chích: 87-96,9%. Ở đó tỷ lệ ở ngưòi cho máu cũng cao hơn ở Hà Nội 20,6% [13, 28, 10].
anti*HCV(+) trong dân chúng khoảng 4,1% [37]. Bằng kỹ thuật miễn dịch pha rắn (SPRIA) ở các đơn vị quân đội thấy tỷ lệ thấp hơn 0,5% (3/620), ở tân binh càng rất thấp 0,3% (1/359), ở sỹ quan cao hơn 0,85% (2/216) [17].
Đọc thêm tại:
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét