Viêm gan virut B- các dấu ấn miễn dịch của HBV
Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014
- Kháng nguyên bề mặt HBV (HBsAg)
Levene và Blumberg [105] đã khẳng định về phương diện kháng nguyên HBsAg không thuần nhất. Le Bouvier và cs [104] đã xác nhận HBsAg ít nhất chứa ba thể: a, d, y. Kháng nguýền a là đặc hiệu nhóm vì nó có mặt ồ bất cứ HBsAg nào, d và y là những kháng nguyên đố’ kỵ nhau, đại diện cho thứ nhóm.
Năm 1972 Bancroft và cs [13] mô tả hai thứ nhóm mới đi kèm theo các thử nhóm ad, ay mang tên w và r. ’Các kháng nguyên thứ nhóm này thường cũng đô' kỵ nhau. Các kháng nguyên nhóm và thứ nhóm phổi hợp nhau theo thê thức sau:
Những phối hợp hay gặp là adw, ayw, adr, ngược lại những phôi hợp ít gặp là ayr, adyw, adyr, adywr.
Sau này ngưòi ta còn phát hiện những thứ nhóm của a: al, al/2, a3/2, a3. Theo Courouce ỗ Hungary ayw thuộc về các nhóm al/2y và a3/2ỳ, ỗ Việt Nam aly là phổ biến, ỏ một sô" địa phương Châu Phi a3y....
Ngoài ra quyết định kháng nguyên r lại có thêm kháng nguyên phụ rl, quyết định kháng nguyên w lại chia ra 4 nhóm là wl, w2, w3, w4. Sau này người ta lại xác định thêm các quyết định bổ sung khác như q, X, g.
Những kháng nguyên nhóm và thứ nhóm kể trên là những yếu tô" quyết định miễn dịch củạ cậc.tiểu thể hình cầu nhỏ, hình ông và lóp vổ tiểu thể Dane được gọi chung là kháng nguyên bề mặt viêm gan B (Hepatitis B surface antigen, HBsAg). Đầu tiên ngưòỉ ta nhầm tưồng rằng chúng chẳng qua chỉ là biểu hiện của phản ứng cơ thể chủ đối vối virus, song những nghiên cứu dịch tễ, thực nghiệm đã chứng minh các kháng nguyên thứ nhóm được mã hoá di truyền bỏi virus độc lập đối vói cợ thể chủ.
Năm 1971 AỊmeida và cộng sự {3} thấy ỏ trọng nhân các tiểu thể Dane cũng như trong nhân cấc .tế bào gan ngưòi mắc viêm gan huyết thanh có một kháng nguyên độc lập với HBsAg được gọi là kháng nguyên nhân viêm gan B (Hepatitis B core- antigen, HBcAg) và nhấn mạnh giả thuyết của Dane và cs răng chỉ có tiểu thê Dane mới là nhân tcf gây bệnh hoàn chỉnh. Đặc đieiĩi sinh sản không hoàn ỉiảo của virus viêm gan B là
sản xuất dư thừa lốp lipoprotein của vỏ, do đó không có sự cân bằng giữa HBsAg và HBcAg.
Năm 1972 Magnius và Espmark {110] phát hiện một kháng nguyên mói gọi là kháng nguyên 3 (HBeAg). Bản chất kháng nguyên này chưa rõ ràng song có môi liên quan chặt chẽ với sự nhân lên, sự hoạt động, và tính lây nhiễm cao của HBV.
Đọc thêm tại:
- http://phongbenhgan.blogspot.com/2014/08/viem-gan-virut-b-cau-truc.html
- http://phongbenhgan.blogspot.com/
- http://phongbenhgan.blogspot.com/2014/08/uong-lay-viem-gan-b.html
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét