Dịch tễ học và cách lây viêm gan virut D
Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014
HDV được biết phân bố trên khắp thế giới, song vối những thây đổi lớn về tần suất theo từng vùng. Dịch lưu hành ỏ vùng Địa Trung Hải, đặc biệt ỏ Italia, Cận Đ ông, một vài vùng Châu Phi và Mỹ La tinh như đồng bằng Amazone ở Nam Mỹ. Mặc dù HDV không có tầm quan trọng như HBV, HCV, song nó cũng chiếm khoảng 5% những ngưòi mang HBV trên thế giới, nghĩa là khoảng 15 triệu ngưòi và cùng vối HBV gây ra những tôn thương gan rất nặng. Gần đây tần suất có xu hướng giảm song song với sự giảm nhiễm HBV do sử dung bơm kim tiệm riêng, đòi sống kinh tế được cải thiện. Tuy nhiên viêm gan D vẫn còn là vấn đề quan trọng vối những ngưòi nghiện chích ma tuý.
Dịch tễ học của viêm gan D cũng đã được đẩy mạnh nhò áp dựng các kỹ thuật sinh học phân tử, đặc biệt sự tích khúc bộ gen HDV. Trong 3 tip gen đã được xác định thì tip gen I nổi trội trên mọi vùng thế giói [9]. Tip gen II đầu tiên được xác, định ồ Nhật Bản, hiện Ịiọi trội d Đài Loan. Tip gen III thây trong những vụ dịch viêm gan nặng ở Venezuela và Peru
Nghiên cứu dịch tễ học phân tử góp phần iậm sáng tỏ đã cách lây và cơ chế lây:
• Theo đưòng tĩnh mạch ỏ những người nghiện chích ma tuý (36%),truyền máu (9%),
• Qua đường tình dục (11%), như cách lây qua đường tình dục
. Nhân viên y tế 18%, những bệnh nhân nhiễm kép đã từng nằm viện chiếm 19%,
Khi nhiễm HDV ở những ngưồi đã nhiễm HBV sẽ thấy hiệu giá HBsAg, HB-DNAvà DNA polimerase giảm. Có trưòng hợp nhất thời không phát hiện được có lẽ vì sự cạnh tranh của virus.
Cơ chế bệnh sinh của tổn thương gan trong viêm gan D còn chưa đủ sáng tỏ. Tác dụng độc tế bào của HDV trên các tế bào gan được giả định trên cơ sở của những quan sát hình thể học v.v Vấii đe nàỳ mặc dù sau đó được sự ủng hộ bởi thấy mối quan hệ giữa các thể nặng của viêm gan D ỏ Nam Mỹ với tip gen III, song hiện còn tranh cãi. Quả vậy, nhiều tư liệu gần đây còn tranh luận chống lại ý kiến cho là HDV độc đôi vói tế bào gan như:
- Không thấy tổn thương gan khí ghép gan có HDAg,
- Các tế bào gan của chuột nhắt chuyển gen có HDAg dù thể ngắn hoặc thể dài không bị tổn thương,
- Tế bào gan của chuột chũi cũng như của ngưòi có mang HĐAg hiếm khi bị tổn thương.
Trong viêm gan D cấp, HDV cố thể độc trực tiếp cho tế bào gán vì có quá nhiều HDAg nhỏ và đóng vai trỏ sinh bệnh chính.
Trong viêm gan D mạn, những phản ứng miễn dịch của cơ thể chủ cũng góp phần gầy độc. Tuy nhiên hoại tử tế bào gan qua trung gian tế bào limpho hình như khống đóng vai trò chủ yếu trong cơ chế bệnh sinh [12]. Những clon tế bào TCD4 mẫn cảm đặc hiệu với HDAg đã được xác định trong viêm gan D mạn với những khác biệt trong peptịde tạo ra qua con đường nội ngoại sinh trong quá trình gia công kháng nguyên. Những T giúp đổ đặc hiệu đối vói HDAg trong viêm gan D mạn GÓ thể bao gồm cả B và T đáp ứng trên động vật thực nghiệm cũng như trên người dẫn đến đáp ứng miễn dịch dịch thể loại trừ và ức chế HDV. Ngoài ra, không nên đánh giá thấp vai trò của HDV vì như biểu hiện trong mô hình ghép gan một nhiễm HDV ket hợp không chỉ với sự thể hiện HDV được kích hoạt trong gan mà còn với hình ảnh viêm hoại tử kinh điển của gan.
Đọc thêm tại: http://phongbenhgan.blogspot.com/2014/08/virut-viem-gan-d-lam-sang.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: trieu chung viem gan b, benh viem gan b lay qua duong nao
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét