Các hậu quả của viêm gan virut cấp
Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014
1.1. Thương tổn đường mật
Một trong những hậu quả được nhiểủ ngưòi thừa nhận của viêm gan virus là tổn thương đưòng dẫn mật, túi mật. Tỷ lệ những hậu quả này khá lốn từ 11,75 (Merjanov, 1940) tái 48% (Somnhich, 1960).
- Ba loại tổn thương được báo cáo là:
- Rối loạn co bóp túi mật.
-Viêm đường mật nói chung, viêm, túi mật nói riêng do vi khuẩn, đặc biệt do E.colị, hay tái phát!
- Sỏi mật.
Thực chất những tổn thương trên nhiều khi cũng khó xác định trưòng hợp nấo la rối loạn ạo bóp túi mật, trường hợp nao là viêm đưòng mật. Chẩn đoán xác định và phân biệt dựa vào lâm sàng, hoá sinh, huyết học, X quang, siêu âm, trong nhiều trường hợp không đạt được, chủ yếu dựa vào hút địch mặt, song nhiều khi không thực hiện được cũng như không đủ tin cậy. Gọi là viêm nhiễm đưòng mật khi trong dịch tá tràng hút ra phải có nhiều bạch cầu cùng vỗi những chất nhầy chứa những liên bào trụ, cũng có thể phát hiện được mầm bệnh gây viêm. X quang có thể giúp phát hiện khả năng ngấm thuốc của túi mật, viêm quanh túi mật, viêm túi mật, sỏi mật.
Cơ chế của những tổn thượng này như thế nào? Đó là những biến chứng có tính chất kinh điển bắt đầu từ giai đoạri cấp của bệnh. Tổn thương có thể xuất hiện đầu tiên ỗ giai đoạn lại sức, song đai đa sô' phát triển ngay ở giai đoạn cấp tính, vào thòi kỳ hoàng đản thuyên giảm. Lưu lượng dòng mật giảm, thành phần bị thay đổi tạo điều kiện cho viêm nhiễm phát triển. Một sô' tác giả cho rằng trong đa sô' trường hợp quá trình không đi quá mức rối loạn co bóp túi mật, những người khác cho rối loạn co bốp túi mật chỉ là giai đoạn bắt đầu, tiếp theo do viêm nhiễm sẽ xuất hiện ở đường mật cũng như túi mật. Một số tác giả nhận thấy bệnh sỏi mật phát triển ở những người đã mắc viêm gan virus và liên hệ bệnh với nguyên nhân nhiễm siêu vi khuẩn.
Về phương diện lâm sàng khi có tổn thương đưòng mật ngưòi bệnh thấy đau ỗ hạ sưòn phải, thưòng xuất hiện sau khi ăn, không chịu được thức ăn mỡ, buồn nôn, đắng miệng. Ở giai đoạn bột phát trong trưòng hợp có viêm người bệnh thường hay bị sốt, bạch cầu cao, đa nhân trung tính tăng, tốc độ lắng máu nhanh, dịch mật có nhiều bạch cầu, dịch nhầy trong chứa nhiều liên bào trụ lát. Ngược lại trong trưòng hợp ngưồi bệnh chỉ có những triệu chứng chử quan kể trên, nhiệt độ, bạch cầu, tốc độ lắng máu, dịch mật bình thựờng ẽhúng ta nghĩ đến một rối loạn cọ bóp túi mật. Kinh nghiệm cậ nhân cho thấy trong thực tế nhiều trưòng hợp rất khọ quyết định. Có lế cũng như Miasnhikov nhận định: rối loạn co bóp túi mật hoặc viêm nhiễm đường mật chỉ là những giai đoạn khác nhạu của một tổn thường.
Về điều trị trong trứờng hợp rôì loạn co bóp túi mật chủ yếu là tâm lý trị liệu, tránh những căng thẳng về trí lực cũng như thể lực, tránh nhữngthức ăn nhiều mố, có gia vị, sử dụng những thuốc nhuận mật, lơi mật như nhân trần, rau má, actisô, cồn boldo, v.v... Nếu đau nhiều có thể cho benladon, atropin, nospa, châm cứu. Trong trường hợp viêm nhiễm đương mật vào thòi kỳ bột phát có thể cho một đợt kháng sinh, nên lựa chọn những lơại đào thải đường mật có tắc dụng mạnh đối vối vi khuẩn gram âm như ampậadlin, thiamphenicol v.v...
Đọc thêm tại: http://phongbenhgan.blogspot.com/2014/09/cac-hau-qua-cua-viem-gan-virut-cap-p2.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: triệu chứng của bệnh gan, bệnh
viêm gan B lây qua đường nào
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét