Viêm gan virus mạn tính- định nghĩa và phân loại p2
Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014
a. Viêm gan mạn tính tồn tại (VGMTT)
Định nghĩa: VGMTT là thể viêm gan virus kéo dài ít nhất trên 6 tháng nhưng ồ mức độ nhẹ, không tiến triển lên, sau vài năm bệnh cồ thể tự khỏi, rất ít và hầu hết không trỏ thành VGMHĐ và XG.
Căn nguyên:
- Hầu hết là do cậc virus viêm gan gâỵ ra, chủ yếu do HBV, HCV. HAV, HEV đều khẳng định khong gây ra VGM gí chung và VGMTT nói riêng, hoạt động tự miễn cũng không gây ra VGMTT.
- VGMTT: Là hậu quả kéo dài và phổ biến nhất của viêm gan virus cấp, do virus tổri tậi ở gan gây ra. Thaler [22] thấy HBsAgi (+) ồ 80% sô" trường hợp. Redeker [10] theo dõi nỊiững người lón mắc viêm gan virus HBsAg(+) cũng như ậm tính thấy tỷ lệ trở thành VGMTT ngang nhau. Kiểm tra HBsAg cho 46 bệnh nhân VGM chúng tôi thấy tỷ lê tương tự, 22 ậm tính, 24 dương tính, mặc dầu kiểm tra các mẫu sinh thiết gạn thây những biểu hiện viêm rõ rệt trong mô gan, song hình ảnh ìâm sàng không có gì nổi bật [5]. Qua dó ngay từ Ịiồi đó GŨng đã đề cập vai trò của một virus không A 1 không B gẩy ra. sáu này nhiều tác giả đã đề cập vại trò của HCV.
Những biểu hiện lâm sàng:
- Tuyệt đại da sô' bệnh nhân cảm thấy hoàn toàn khoẻ mạnh. Song một sô" ít bệnh nhân kêu mệt, làm việc chóng mệt, ăn kém ngon, cảm giác khó chịu tưng tức rất mơ hồ vùng hạ sườn phải.
- Khám xét: Hoàng đản thường không có, hiếm khi bệnh bột phát vàng da nhẹ. Gan hơị tò, chắc song nhiều khi không sờ thấy. Lách không to, không có biểu hiện bệnh ngoài gan. Becker và cộng sự [1] thấy trong những trường hợp có biểu hiện lâm sàng thì mệt mỗi và gan to lạ hai triệu chứng phổ biến nhất.
- Kiểm tra hoá sinh: Các xét nghiệm chức năng gaiỉ kết quả bình thưòng. Chỉ thấy các aminotransferase thưòng xuyên tăng kéo dài, hoặc từng thòi kỳ nhưng chỉ tặng nhẹ, hầu như không vượt qua 5 lần bình thường. ALT hầu như luôn luôn cao hơn AST. Protid toàn phần và điện di không thay đổi rõ rệt IgA và IgM tăng lên vừa phải song không có ý nghĩa. Albumin huyết thanh bình thưòng. Không thấy các tự kháng thể như trong VGM tự miễn hoặc VGMHĐ.
- Soi ổ bụng thấy mặt gan nhẵn và sáng [9]. Siêu âm thấy âm gan tăng.
- Sinh thiết gan cho thấy những ton thương viêm khu trú ồ khoảng cửa với các tế bào đơn nhân, viền các tiểu thuỳ gan nguyên vẹn, không có hiện tượng mối găm mô xơ không thâm nhập vào các tiểu thuỳ.
. Chẩn đọán và tiên lượng:
- Chẩn đoán xác định VGMTT thường khó vì phải phân biệt với bất cứ nguyên nhân nào làm aminotransferase tăng nhẹ.
- Quan trọng nhất lặ phân biệt VGMTT với VGMHĐ, đặc biệt kho trong 6 tháng - 12 tháng đầu sau viêm gan virus cấp. Sau đó theo thời gian chúng ta dễ nhận định hơn. Nếu là VGMHĐ bệnh cứ tiến triển dần lên theo chụ kỳ dẫn đến XG. Ngược vối VGMTT sau vài năm ổn định dần. Aminotransferase dần trồ về bình thường kể cả hình ảnh tổn thương giải phẫu bệnh. Nếu là VGMTT do HBV HBsAg có thể tồn tại mãi trong máu. Do đó một số người mang HBsAg không triệu chứng rất có thể trong tiền sử có VGMTT đã không được phát hiện và có thể đã tự khắc phục.
Theo Krieg và cộng sự 18] VGMTT khỏi trong một nửa số trường hợp, đại đa so sau 2 - 5 năm, đặc biệt ỏ trẻ em và thanh thiếu niên Becker và cộng sự [1] theo dõi 20 bệnh nhân VGMTT được 6 năm, trong đó 12 ca được sinh thiết gan định kỳ không thấy ca nào phạt triển XG,
- Tuy nhiên trong một số trưồng hợp VGMTT không diễn biễn nhất thiết như vậy mà có thể chuyển thành VGMHĐ, thậm chí trồ thành XG. Nhiều yếu tô" có thể tác động xấu đến diễn biến như nghiện rượu, nhiễm độc thuốíc, hoá chất, bội nhiễm các virus viêm gan gây ra.
Đọc thêm tại: http://phongbenhgan.blogspot.com/2014/09/viem-gan-virus-man-tinh-inh-nghia-va_40.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: dau hieu viem gan b, bệnh
viêm gan B lây qua đường nào
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét