Viêm gan virut E- đại cương và virut học p3
Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014
- Sau đó nghiệm pháp ngăn cản FA đã được sử dụng để phát hiện anti‘HEV trong các mẫu huyết thanh bằng cách sử dụng HEVAg trồng cẳc tế bào gàn lấy từ cẩc khỉ cynomolgi macaccus gây nhiễm thực nghiệm với HEV [22]. Tính đặc hiệu HEV của nghiệm pháp này đã được ghi nhận bằng nghiên cứu hấp phụ của các thử nghiệm đánh dấu huỳnh quang, sử dụng protein tái tổ hợp mã hoá bỏi HEV-ORF2 [26].
- Sau khi HEV đã được đơn dòng và cắt khúc các nghiệm pháp western blot và EIA đã được phát triển để phát hiện anti
- HEV, sử dụng các protein HEV tái tổ hợp đại diện cho những epỉtope ữu thế miễn dịch của những vùng cấu trúc chính thức của HEV (ORF2 và ORF3) hoặc những peptide tổng hợp.
Những kỹ thuật này có độ nhậy cao hơn so vối những kỹ thuật ban đầu có thể hiện anti-HÉV ỏ trên 95% bệnh, nhân mắc viêm gan E cấp.
Anti-HEV tip IgM được xác định để phân biệt viêm gan cấp vói nhiễm trong quá khứ. Kháng thể Iiàyixuất hiện trong vòng một tuần tói hai tháng sau khồi phát.
- Những phương phảp chẩn đoản xác định nhiễm HEV bằng phát hiện HEV trong phân và HEV-RNA trong huyết thanh. Các tiểu thể HEV trong phân bệnh nhân và khỉ bị nhiễm thực nghiệm có thể được phát hiện với kỹ thuật IEM. Kỹ thuật này còn khó khăn phần vì ít virus được đào thải, phần vi HEV sức sống yếu khi lưu giữ. Kỹ thuật RT-PCR (reverse transcriptase polymerase Chain reaction) cũng được phát triển góp phần quan trọng vào phát hiện HEV đào thải vdi lượng ít [23, 29]. Xem Bảng 18.
Bảng 18: Các nghiệm pháp
phát hiện HEV
|
Xem thêm:
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét