Nghệ và bệnh gan
Thứ Năm, 4 tháng 9, 2014
Tên khoa học Curcuma longa L. (Curcuma domestica Lour), họ Gừng (Zingiberaceae). Thân rễ cây nghệ gọi là khương hoàng {Rhizoma Curcumae longae) và rễ củ gọi là uất kim (Radix Curcumae longae).
Thành phần hoá học: Chất màu curcumin 0,3%; tinh dầu 15%, trong đó có curcumén, 5% paratolylmethylcarbinol; ngoài ra còn tinh bột, canxi oxalat, chất béo.
Tác dụng dược lý :
Guy Laroché (1933), H.Leclec (1935) đã chứng minh tác dụng lợi mật (choleretic) là do chất paratolylmethylcarbinol, còn chất curcumin có tính chất thông mật (cholagogue). Robbers “(1936) đã chiết ra từ nghệ một chất có tác dụng tăng bài tiết mật và chất curcumin có tính chất co bóp túi mật.
Theo Vũ Điền tân dược lập, nghẹ có một số tác dụng sau: tác dụng đối với ciiức năng giải độc cho gan; làm giảm rõ rệt lượng galactoza trong nước tiểu; Ẻoĩ với lượng úrobilin tăhg trong nước tiểu, ưông thuốc có nghệ vài ngày thấy urobilin trong nưốc tiểu giảm; dùng nghệ trong những bệnh về gan và đường mật thấy chóng khỏi.
Công dụng;
Nghệ có vị cay, đắng, tính ôn, vào 2 kinh can và tỳ; nghệ có tác dụng phá ứ huyết, huyết tích, kim sang và sinh cơ (lên da), chỉ huyết; thường được (dùng trong bệnh đau dạ dày, vàng da, phụ nữ sau khi sinh đẻ, đau bụng.
Năm 1998 Phạm Xuân Trường và cộng sự đã nghiên cứu cao lỏng Curcuma harmandii và Curcuma trichosantha trên thực nghiêm cho thấy có tác dụng kích thích bài tiết mật của gan không làm thay đổi số lượng bilirubin toàn phần và tỷ trọng của dịch mật .
Còn gọi là cỏ thiên thảo, cây cứt lợn, kiếm, san nga. Tên khoa học 'Anisomeoles ovata R.Br. hay Anisomeles indica (L) họ Hoa môi (Lamiaceae).
Thành phần hoá học: Hồ Đắc Ân (1963) đã chiết xuất được chất ovatodiolide từ lá cây thiên thảo. H. Imme (1965) đã xác định được cấu trúc hoá học của ovatodiolide có một nhân vòng với 14 nguyên tử cacbon, 4 nối kép và một dilacton.
Tác dụng dược lý :
Năm 1963, Hồ Đắc Ân và Bửu Hội đã nghiên cứu tác dụng dược lý của cỏ thiên thảo và đi tới kết luận là cho chuột uống ovatodiolide với liều cao (250-750 mg/kg) có tác dụng kích thích sự bài tiết mật của các tế bào gan (ọholeretic), hàm lượng nước trong mật không thay đổi; chứng tỏ ovatodiolide có tác dụng kích thích tiết mật thực sự.
Tính vị qui kinh: vị ngọt, tính bình, dễ hấp thụ vào tỳ vị, có tác dụng thanh nhiệt, trừ thấp. Năm 1980, Nguyễn Thuyên, Trần Ngọc Bíeh nghiên cứu Anisomeles Ovata (cây thiên thảo) cho kết luận: “Thiên thảo có tác dụng kích thích tế bào gan làm tăng tổng hợp và bài tiết mật, tăng tiết mật nhưng không làm thay đổi các thành phần trong nưốc mật.”
Năm 1982, Trần Ngọc Bích và cộng sự dùng cao thiên thảo vói tỷ lệ 5/1 (10ml/24giò) điều trị cho một sô' bệnh nhân bị viêm gan virus thể vàng da kéo dài đã có kết luận: “Cao thiên thảo có tác dụng lợi mật. Điều trị trong bệnh viêm gan siêu vi trùng làm bilirubin, trasaminase huyết thanh chóng trỏ lại giá trị bình thưòng. Cơ thể chóng hồi phục. Có thể sử dụng cao thiên thảo vào điều trị bệnh viêm gan siêu vi trùng thê thông thường, thể vàng da kéo dài thay cho các thuốc y học hiện đại”
Đọc thêm tại: http://phongbenhgan.blogspot.com/2014/09/ngu-vi-tu-cay-cuc-gai-va-benh-gan.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: trieu chung viem gan b, benh
viem gan b lay qua duong nao
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét