Kiểm tra sinh hóa viêm gan p2
Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014
2.1. Hội chứng hoại tử tế bào gan
Các tế bào gan bị tổn thương ỏ các mức độ khác nhau, nếu nhẹ chỉ giới hạn ỏ màng tế bào làm tăng tính thấm, cho phép một số chất chứa đựng trong bào tương thoát ra ngoài, nếu nặng tế bào hoại tử hoàn toàn mọi thành phần chứa đựng trong tế bào: sắt, vitamin B12 và nhiều loại men khác nhau đều có thể thoát ra ngoài ít nhất 20 men trong huyết thanh. đã được xác định thay đổi bất thường ở những bệnh nhân có tôn thương gan. Tuy nhiên trong viêm gan virus cấp những men cố thay đổi quan trọng nhất là aminotransíerase, dehydrogenase [2, 3, 8,12, 14].
Kiểm tra men aminotransfèrase được áp dụng rộng rãi trong chẩn đoán cũng như điều tra dịch tễ viêm gan virus. Aspartate-aminotransíerase (AST) có hàm lượng cao trong gan song cũng có hàm lượng cao trong cơ tim, cơ vân, thận và hồng cầu. Men này tăng cao khi có tổn thương bất kể , mô nào kể trên, song ở viêm gan virus cấp vẫn là cao nhất, có thể tăng từ 10 tới 20 lần bình thường. Ngượò lại, nguồn phong phú nhất của alanin-aminotransferase (ALT) là gan và khi men này tăng cao trong huyết thanh, mặc dầu tương dối đặc hiệu hơn, có ý nghĩa lón trong chẩn đoán. ALT chỉ có mặt ỏ bào tương, còn AST có mặt ỏ cả ty lạp thể lẫn bào tương. Chỉ sô' De Ritis bình thường là 1/3, trong viêm gan chỉ sô" này bé hơn 1. Trong trường hợp viêm gan virus cấp diễn biến nặng, tổn thương tế bào sâu sắc hơn, AST và men của ty lạp thể là glutamat dehydrogenase (GLDH) đổ vào huyết thanh với khôi lượng lớn. Chỉ sô" De Ritis AST/ALT3 tăng cao. Kiểm tra hoạt tính aminotransferase được De Ritis và cs [2] coi như một nghiệm pháp có ích chó chẩn đoán và tiền lượng viêm gan virus vì những men này tăng lên rõ rệt ồ cả hai thể viêm gan hoàng đản cũng như không. Bùi Đại và Vũ Huy Thành [4] cũng thấy trong số các men thì aminotransferase (AST, ALT) có giá trị chẩn đoán hơn cả, ỗ giai đoạn đầu ALT thưòng cao hơn AST, song giá trị của chúng không luồn luôn tương ứng với mức độ nặng của bệnh. Sherlock (1968) cũng nhấn mạnh mức độ aminotransferase không được coi như một căn cứ tiên lượng vì chúng có thể giảm xuống ngay cả trong lức bệnh diễn biến xấu đi.
Nghiên cứu để có những men đặc hiệt hơn chẩn đoán tổn thướng gan, đã phát hiện được một scí mèn được gọi là đặc hiệu cho gan như socbitol dehydrogenase, glutamat dehydrọgenase, fructoza-l-photphat andolase, ocnì-thin cacbamyl- transíerase, pseudocholinesterase. Song đánh giá nồng độ trong huyết thanh của những men này nhìn chung tỏ ra kém nhạy hơn aminotransíerase, đặc biệt về phương diện đặc hiệu mô không đạt được hiệu giá cao như amiiiotransferase, hơn thế nữa 'húng có xu hướng biến mất khỏi máu ồ ngay giai đoạn sớm của bệnh. Sau aminotransferase, men có giá trị lâm sàng tương đốỉ tốt là andolase. Men này tăng cao ỏ 80% sô' bệnh nhân, cao nhất ỏ thòi kỳ đầu, giảm dần từ tuần thứ hai. Phophatase kiềm tăng nhẹ ỏ 2/3 sô' trường hợp, pseudocholinesterase giảm ỏ 1/2 sô" trường hợp.
Đọc thêm tại:
- http://phongbenhgan.blogspot.com/2014/08/kiem-tra-sinh-hoa-viem-gan-p3.html
- http://phongbenhgan.blogspot.com/
- http://phongbenhgan.blogspot.com/2014/08/uong-lay-viem-gan-b.html
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét