Định nghĩa và phân loại xơ gan p2
Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014
1.1. Phân loại theo mức độ và diễn biến
Theo mức độ bệnh chia ra:
- Xơ gan bù trừ: người bệnh chưa có triệu chứng chủ quan nào, những triệu chứng khách quan thường eững không có. Tổn thương chủ yếu được phát hiện dựa vào những thay đổi chỉ số các nghiệm pháp quá tải được thăm dò.
- Xơ gan gần bù trừ: mệt mỏi, sút cân, các triệu ổhứng thiếu sinh tố. Hoàng đản nhẹ, bilirubin máu không quá 5%. Đã có thể xuất hiện những thay đổi^nội tiết, những biểu hiện ngoài da, phù. Arairìỏtransferase tăng nhẹ, Gros, Mac Lagan dương tính, alburain máu giảm.
- Xơ gan mất bùỉ ngưòi bệỉih mệt mỏi thường xuyên, sút cân, ăn kém. Hoàng đản vừa hoặc nặng. Thay đổi nội tiết rõ, ngoài những biểu hiện ngoài da, phù, đã xuất hiện cổ trướng, sốt nhẹ, bilirubin máu trên 5mg%, aminotransíerase trên 500microft%, albumin dưới 40%, phức hợp prothrốmbin giảm mạnh có thể tới dưới 40% do các yếu tố đông máu II, V, VII giảm.
Theo tiến triển chia ra:
- Xơ gan không tiến triển hoặc ổn định.
- Xơ gan tiến triển vừa.
- Xơ gan tiến triển mạnhn
Phân lọại theo tiến triển cỢ bản dựa vào hình thể học, có ý nghía tiên lượng và phục vụ công tác điều trị tốt.
Xơ gan không tiến triển khi thây những cục tái tạo, mô liên kết mỏ rộng nhưng không thấy biểu hiệíi viêm rõ, không thấy loạn dưỡng và hoại tử tế bào gan, ranh giối giữa mô liên kết và nhu mô rộ ràng.
Xơ gan tiến triển vừa khi không có hoặc ỉt loạn dưõng và hoại tử, thâm nhiễm viêỊn rõ, song chủ yếu trong mộ .liên kết, tế bào Kupffer hoạt hoá.
Xơ gan tiến triển mạnh: loạn dưõng và hoại tử í*ất mạnh, tái tạo mạnh, thâm, nhiễm viêm không những ô mô liên kết mà còn ỏ cả nhu mô, tế bào Kupffer hoạt hoá mạnh, ranh giới giữa mô liên kết và nhu mô gan không còn rõ ràng nữa.
Biểu hiện lâm sàng của sự tiến triển là gầy sút, hoàng đản aminotransferase tăng, albumm giảm, bilirubin mằu tẩng
Xơ gan tiến triển thường là xơ gan gần bù hoặc xơ gan mất bù, dỉễn biến mạn tính song có những đợt bột phát. Nguyên nhân của những bột phát có thể là một nhiễm khuẩn; uống rượu, gắng sức, đôi khi không thấy một nguyên nhân nào. Theo Thaler (1974), xơ gan do virus viêm gan B thưòng mang tính chất tiềm tàng, diễn biến kéo dài, song 80-% bệnh nhân không sống quá 5 năm.
Xơ gan tiến triển cuối cùng dẫn đến hôn mêr gan và tử vong. Theo Bliuger (1978) 38 - 77% bệnh nhân xơ gan chết vì hôn mê gan. Sau hôn mê gan 25% bệnh nhân bị xuất huyết do giãn tĩnh mạch thực quản. Chết hoặc do mất máu hoặc do hôn mê tiếp theo.
Đọc thêm tại: http://phongbenhgan.blogspot.com/2014/09/inh-nghia-va-phan-loai-xo-gan.html
Từ khóa tìm kiếm nhiều: trieu chung viem gan b, benh
viem gan b lay qua duong nao
Bài liên quan
Home
Comments[ 0 ]
Đăng nhận xét